SÁCH THÁI CỰC QUYỀN


June 25, 2014
Leave a comment

Thực Hành Dưỡng Sinh Tăng Cường Sức Khoẻ & Tuổi Thọ

TH_DS_TC_SK&TT
   Thông tin sản phẩm:

   Tác giả: Lương Trọng Nhàn
   Nhà xuất bản VH Thông Tinh-2011.
   Phát hành: Cty VH Hương Trang
   Hình thức: Bìa mềm
   Kích thước: 14.5 x 20.5
   Số trang: 192
   Trọng lượng 220 gr
   Giá bìa: 33,000 VNĐ
   Phân phối: Tác giả
   (Sách có chữ ký của tác giả)

   Tác gỉả giữ bản quyền

Giới thiệu:

Y học cổ truyền phương Đông từ ngàn xưa luôn chú trọng phòng bệnh hơn chữa bệnh trong đó việc ngăn chặn các tác nhân gây bệnh bằng cách cũng cố tuyến phòng thủ trong cơ thể mạnh mẽ là một phương pháp hữu hiệu và đó là con đường đúng đắn mà cổ nhân thường gọi là Đạo dưỡng sinh.

Thực hành dưỡng sinh, người xưa biết vận dụng mọi qui luật tác động của thiên nhiên lên sinh vật muôn loài qua thời gian dài để sống thích nghi với môi trường tận dụng được sự biến hóa thuận lợi và khắc phục những tác nhân bất lợi và không tìm cách cưỡng chống lại thiên nhiên, chính vì thế với sự khai thác môi trường thô sơ, tổ tiên chúng ta đã duy trì được một đất nước toàn vẹn ngang tầm với bất cứ dân tộc nào trên thế giới và để lại một gia sản thiên nhiên gần như nguyên sơ rừng núi vô vàn gỗ quí và thảm thực vật điều tiết lũ lụt và hạn hán hiệu quả, sông ngòi phong phú chủng lọai tôm cá, mang nước ngọt phù sa bồi đắp đồng bằng phì nhiêu cho đến đầu thập niên 80 của thế kỹ trước.

Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, áp lực gia tăng dân số và công nghiệp hóa là cho nhu cầu về năng lượng tăng quá nhanh đẩy mạnh nạn phá rừng lấy gỗ củi đốt, quặng mỏ, trồng cây công nghiệp, đường giao thông và khu dân cư mọc lên dọc theo các trục lộ nhưng nhiều nhất vẫn là hồ chứa nước cho thủy điện đã ngốn quá nhiều diện tích và tài nguyên rừng núi, khiến cho môi trường sống mất cân bằng nghiêm trọng, nhất là môi trường không khí bị ô nhiễm khí thải và khói xe chứa nhiều chất độc hại và môi trường nước ngầm và nước mặt bị ô nhiễm chất thải công nghiệp, tôm cá không sống nổi đe dọa nghiêm trọng sức khỏe con người .

Do vậy con người hiện đại cần đặt lại ý thức về môi trường trước khi quá muộn, những ngành công nghiệp có hại cho môi trường phải hạn chế và dần dần phải triệt tiêu vì “lợi bất cập hại” của chúng và ngay từ bây giờ mỗi người phải nỗ lực bản thân bảo vệ sức khỏe bằng nội lực của mình bằng cách điều chỉnh cách ăn mặc ở cho tác nhân có hại càng ít xâm nhập càng tốt đồng thời tích lũy nội khí để tăng cường sức mạnh đó là phương pháp dưỡng sinh đứng đắn là tái lập cân bằng Âm Dương trong cơ thể và hòa hợp với môi trường.

Trong các phương pháp dưỡng sinh tăng cường sức khỏe, phương pháp nào cũng tìm cách tái lập cân bằng Âm Dương nhưng ít có môn nào tập luyện cân bằng cho hiệu quả cao như Thái cực quyền. Môn này là môn tập “Khí công động luyện” bằng các động tác đối xứng qua trung tâm cơ thể để duy trì sự cân bằng năng lượng qua mọi phương hướng phù hợp với qui luật cân bằng động qua một trung tâm của một vũ trụ, một vùng trời (thiên lĩnh), một thiên hà, một thái dương hệ, một ngôi sao (mặt trời), một hành tinh, một vệ tinh, một châu lục, một quốc gia, một lãnh thổ, một vùng đất, một kinh thành, một thị trấn, một mảnh vườn, một kiến trúc nhà cửa hay lăng mộ, một phòng ốc, một thân thể hay một nguyên tử vật chất…mà cổ nhân đã diễn tả qua mô hình ô vuông Lạc Thư. Năng lượng đối xứng qua trung tâm của vật thể dù có biến chuyển theo thời gian và không gian nhưng vẫn giữ trạng thái cân bằng để tồn tại, đó là cân bằng Âm Dương, hòa hợp Ngũ Hành mà khoa học hiện đại gọi là nguyên lý bảo toàn vật chất, bảo toàn năng lượng.

Trong hai cuốn “Thái Cực Quyền Dưỡng Sinh” và Phương Pháp Tập Luyện hiệu Quả Thái Cực Quyền Dưỡng Sinh” xuất bản năm 2004 và 2007 có tái bản sau đó, chúng tôi đã giới thiệu hai bài Thái Cực Chưởng căn bản của Triệu gia là: “Đơn nhân thôi thủ 80 thức và Thái Cực Chưởng 132 thức, nay nhận thấy bài “Thái Cực Kiếm 106 thức Triệu gia”, một bài múa quyền có vũ khí là kiếm tiêu biểu có các động tác đẹp, xin giới thiệu để góp phần bảo tồn môn võ thuật dưỡng sinh truyền vào Miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 50 của Tôn sư Triệu Trúc Khê.

Tác giả cố gắng ghi lại những chiêu thức do các Thầy truyền dạy, tất nhiên quá trình tập luyện thế nào cũng không thể đáp ứng những nguyện vọng chân truyền của các Tôn sư chân chính, nhưng cố giữ những nét căn bản để người đã tập qua nhớ lại bài là ước nguyện chân thành của tác giả, mong các bậc thức giả chỉ giáo cho những điều chưa hoàn thiện.

 Trích đoạn:

DƯỠNG SINH THUẬN ỨNG VỚI BỐN MÙA

Mục đích của dưỡng sinh phòng bệnh tật ứng với bốn mùa là “lấy Đạo của tự nhiên, điều dưỡng thân thể tự nhiên”.

1.Con người phải sống thích ứng với sự biến hóa của nhật nguyệt

Con người là sản phẩm của tự nhiên. “Khí của trời đất kết hợp, sáu loại thời tiết phân chia mà vạn vật hóa sinh”, loài người qua thời gian dài sống trong điều kiện tự nhiên nên theo luật cạnh trang sinh tồn thì đã thích ứng với điều kiện của môi trường xung quanh mới tồn tại. Sự thịnh suy của khí huyết, tiêu trưởng của Âm Dương trong cơ thể cũng tương ứng mà biến hóa theo thời tiết bốn mùa và vận động của trời đất.

2.Ngũ tạng và khí huyết với bốn mùa

Nội kinh cho rằng Tâm là thái dương ở trong dương thông với khí mùa Hè. Phế là thái âm ở trong âm, thông với khí mùa Thu. Thận là thiếu âm ở trong âm, thông với khí mùa Đông. Can là thiếu dương ở trong dương, thông với khí mùa Xuân.

Nội kinh cho rằng khí huyết trong cơ thể cũng chịu tác động sự tròn khuyết đầy vơi của mặt trăng.

3.Phương pháp dưỡng sinh

a)Nguyên tắc

Qui luật biến hóa của sinh vật trên quả đất là “Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng” (春生 , 夏’, 秋斂 , 冬藏 ). Tức là mùa Xuân sinh sôi nẩy nở, mùa Hạ trưởng thành, mùa Thu rút bớt sự sinh trưởng, mùa Đông cất giấu sức sống để chuẩn bị năng lượng cho mùa Xuân kế tiếp. Điều này có thể thấy rõ ở thảo mộc: vào mùa Xuân nhiệt độ và độ ẫm vừa phải thì đâm chồi nảy lộc, mùa Hạ nhờ ánh nắng nhiều và thời gian chiếu sáng dài (dài) quang tổng hợp (photosynthesis) tốt tạo tế bào và sinh chất giúp

cây tăng trưởng mạnh mẽ, đến mùa Thu lá cây đã già, lượng mưa ít hoặc không mưa cây bắt đầu ngừng tăng trưởng và cuối Thu đầu Đông cây rụng lá, nhiều loại còn trơ cành ẩn chứa sinh lực, sống chậm để chờ mùa Xuân tới lại đâm chồi nẩy lộc tiếp tục chu kỳ sinh trưởng trong năm. Đây là qui luật biến hóa khách quan của trời đất, nên con người phải tuân theo mà dưỡng sinh theo trật tự “sinh trưởng liễm (thu) tàng” khiến cho hoàn cảnh trong ngoài thống nhất thì mới tăng cường năng lực của các cơ quan nội tạng.

• Xuân Hè: mùa Xuân khí sinh, mùa Hè khí trưởng, Dương khí trong tự nhiên vượng thịnh dần, nên con người cần thích ứng để dưỡng dương. Từ đó dương khí mới được tiềm tàng vừa sinh ra mạnh lên dần và âm khí mới dần dần vững chắc mà không bị tiết phát quá độ hay quá lạnh bên trong làm tổn tổn thương dương khí.

•-Thu Đông: mùa Thu khí thu lại (thu), mùa Đông khí lui vào ẩn chứa (tàng). Vào thời gian này dương khí dần dần suy tàn nhường chỗ cho âm khí vượng thịnh, cần thích ứng để dưỡng âm. Từ đó cân bằng dương khí trong cả năm làm dương khí không quá thịnh làm hao tổn âm khí.

b)Phương pháp

*Mùa Xuân

+Tinh thần, tình cảm, ý chí

Mùa Xuân thuộc Mộc, tương ứng với tạng Can (gan) thuộc Mộc ý chí con người sinh sôi nẩy nở, tinh thần sảng khoái. Cần giữ cho tinh thần không hao tổn thì tạng phủ không bị lão hóa, tránh được tật bệnh sẽ được trường thọ cần phải điều nhiếp tinh thần ý chí trong 3 tháng mùa Xuân:

• Tránh giận dữ: cần dùng sức mạnh lý trí để khống chế được tinh thần ý chí trong những xung đột tranh cãi.

• Loại bỏ những tình cảm không tốt, những u uất không để trong lòng mà phải giải tỏa bằng tâm sự hay chia xẽ với người khác, hay bộc lộ ra không giữ kín trong lòng, để tâm hồn được cân bằng thư thái, lạc quan.

• Mùa Xuân dương khí thịnh phát, vạn vật tươi tốt, cơ thể người ta cũng vậy Can dương sinh phát, khí huyết lưu thông, thay cũ đổi mới, tinh thần thư thái. Con người cần phải khoan thai thì khí huyết mới không bị uất trở, mọi cơ quan nội tạng mới vận động bình thường.

Làm được những việc trên là “khiến cho chí được sinh ra” như Nội kinh đã khuyên chúng ta.

+Ăn uống

• Giảm vị chua: vị chua thuộc Mộc sẽ hỗ trợ Can khí (mộc) quá vượng vào mùa Xuân (mộc), Can quá vượng dễ làm hại đến Tỳ thổ (Mộc khắc Thổ) dẫn đến Tỳ hư.

• Thêm vi ngọt thuộc Thổ sẽ làm lành mạnh Tỳ. Một nhà thuốc dân tộc hiệu Hồng Đào ở Quảng Nam- Đà Nẳng có sản xuất thuốc trị bệnh khó tiêu nhãn hiệu “Kiện tỳ tiêu thực trừ độc tán” có vị ngọt uống rất hiệu quả.

• Gia vị : các loại hành tỏi hẹ, mù tạt là những gia vị dưỡng dương tốt.

Thêm vi ngọt thuộc Thổ sẽ làm lành mạnh Tỳ. Một nhà thuốc dân tộc hiệu Hồng Đào ở Quảng Nam- Đà Nẳng có sản xuất thuốc trị bệnh khó tiêu nhãn hiệu “Kiện tỳ tiêu thực trừ độc tán” có vị ngọt uống rất hiệu quả.

• Gia vị : các loại hành tỏi hẹ, mù tạt là những gia vị dưỡng dương tốt.

+•Quần áo

Mùa Xuân tuy khí hậu ấm áp nhưng nên đề phòng những đợt rét bất thần vì thế cần chuẩn bị sẵn quần áo lạnh như ở miền Bắc Việt Nam có đợt rét nàng Bân.

Tháng giêng rét dài,

Tháng hai rét lộc,

Tháng ba rét nàng Bân.

Rét tháng ba, bà già chết cóng. (Ca dao).

•+Hoạt động

Ngày mùa Xuân nếu thời gian ngủ quá dài sẽ tổn hại đến Dương khí trong cơ thể, vậy nên ngủ muộn dậy sớm. Cần chủ động vận động vừa sức thích hợp với sức khoẻ và hoàn cảnh sống.

+Tình dục dưỡng sinh

Mùa Xuân nhu cầu sinh hoạt tình dục của con người đặc biệt mạnh. Nhiều người do tinh lực dồi dào, thân thể cường tráng thường sinh hoạt tình dục thiếu điều độ dẫn đến lao lực quá mức ảnh hưởng khống tốt đến sức khoẻ.

Theo kinh nghiệm dưỡng sinh y học cổ truyền thì vào mùa xuân tần suất sinh hoạt tình dục cần khống chế như sau:

-Tuổi thanh niên (từ 20 đến 35 tuổi) mỗi tuần chỉ vào khoảng 3 lần.

-Tuổi trung niên (từ 36 đến dưới 45 tuổi đối với phụ nữ và từ 36 đến 50-55 tuổi đối với đàn ông) mỗi tuần chỉ khoảng 1 lần.

-Người cao tuổi 55-65 thì 2 tuần 1 lần, từ 65-75 thì 1 tháng 1 lần.

*Mùa Hè

Trong cả năm chỉ có 3 tháng mùa Hè, địa cầu chịu tia nắng gần thẳng góc với mặt đất nên nóng nhất và cây cối cũng hấp thụ nhiều năng lượng làm nên chất khô thực vật sinh trưởng hoa trái mạnh, cung cấp dinh dưỡng cho động vật sinh sôi nhiều nên mới gọi là mùa sinh khí thịnh nhất. Ở con người là lúc trong cơ thể thay cũ đổi mới, dương khí phát tiết ra ngoài, âm khí ẩn giấu bên trong, khí huyết vận hành mạnh mẽ nhất.

Lý thuyết Đông y đề ra nguyên tắc dưỡng sinh mùa Hè: “Tránh thử tà mùa Hè, phòng thấp tà lúc Trưởng hạ”. Nghĩa là tránh nóng vào mùa Hè, đề phòng ẩm thấp vào ngày Trưởng hạ (ngày nóng nhất). Có nghĩa là tránh tình trạng quá đề phòng nắng nóng mà lại sinh nhiễm hàn lạnh dẫn đến tổn thương dương khí bên trong. Ví dụ: Tắm nhiều vào ngày nắng nóng lúc lỗ chân lông, tuyến mồ hôi mở dễ dẫn đến cơ thể “lặm nước” dẫn đến nhiễm cảm mạo nhiễm nước.

+Tinh thần, tình cảm, ý chí

Nắng gắt mùa Hè làm tổn thương tân dịch, hư hao dương khí, cơ thể dễ mỏi mệt, sinh cáu gắt. Con người nên thuận ứng với đặc điểm dương khí quá vượng thịnh mà trấn tĩnh tinh thần, điều chỉnh cho tâm tính điềm đạm, thì sự mát mẻ có thể từ tâm sinh ra cân bằng với thời tiết ngày Hè. Nếu để nóng nảy phát tiết tức dương khí quá thịnh sẽ “cộng hưởng” với dương khí thịnh” ngày hè sinh ra uất kết, mất cân bằng Âm Dương trầm trọng, tổn thương “chính khí”.

Có thể giữ tâm hồn thanh đạm bằng cách đọc sách, thư pháp, làm thơ, chơi nhạc…làm cho trí não thanh thản, khung cảnh được dịu mát.

Tóm lại cần phải điều nhiếp tinh thần ý chí trong 3 tháng mùa Hè là: “giữ chí không tức giận”.

+Ăn uống

Mùa Hè dương khí thịnh phát tiết ra ngoài, khi dương thịnh cực thì âm sinh . Âm khí ở bên trong nên ăn uống thanh đạm, ít ăn các chất béo, dầu mỡ sinh nhiều năng lượng làm người bị nóng (dương cực), ăn uống những chất thanh nhiệt giải nắng như rau đậu làm mạnh tỳ khai vị

Lưu ý: Dân gian ta thường quan niệm “nóng” trong cơ thể và dùng thức ăn thuốc thảo dược làm “mát” trong người quá bao quát. Thầy thuốc phân biệt triệu chứng do nóng để khuyến cáo sử dụng thức ăn mát hoặc làm thuốc “giải nhiệt” cho chính xác:

a)Các món ăn thanh nhiệt (tả hỏa):

-Bầu bí, mướp, khổ qua, đậu bắp

-Rau má, rau sam, rau dền, mồng tơi.

-Đậu xanh, giá đậu

-Cua, chem chép, bong bóng, vi cá

-Huyền sâm, sâm bố chính

Theo kinh nghiệm chúng tôi, thì rau má là lọai thức ăn giải nhiệt nhanh nhất và hiệu quả nhất, có thể xay lá uống như sinh tố hoặc nấu canh ăn.

b)Các món ăn mát gan (giải độc):

-Artichaut, cà rốt, cà chua, rau đắng, cà dái dê

-Tim sen, cá chạch, sò huyết .

c) Các món ăn sinh tân dịch:

-Bí đao, dưa hấu,ngó sen, trái mận, thịt vịt.

e)Các món ăn nhuận trường:

-Chuối trái, cam, rau cần

-Các lọai rau có nhiều chất nhớt có tính nhuận trường mạnh: rau càng cua, lá sâm đất.

d)Thông tiểu:

-Mã đề, mía lau, trà xanh, đậu đỏ.

– Ý dĩ nhân, xa tiền tử.

f)Giải khát (giải thử):

-Củ sắn dây, củ đậu, củ năn, củ huỳnh tinh.

-Sương sâm, sương xáo, hạt é, lười ươi.

-Trà hoa cúc, hoa kim ngân, nước ươm tơ.

 +Quần áo

Cần mặc quần áo mát mẻ vào ban ngày và vừa phải vào ban đêm.

+Hoạt động: Ngày mùa Hè rất nóng bức dương khí thịnh, âm khí hư nên có thể nên dậy sớm một chút để thuận ứng với sự sung mãn của Dương khí, cân ngủ muộn một chút để thuận với Âm khí không đầy đủ. Vì ngủ muộn dậy sớm giấc ngủ hơi thiếu cần bổ sung ngủ trưa là lúc nhiệt độ nóng nhất cũng là một cách giảm bớt nhiệt độ cơ thể vì càng cử động cơ thể càng sinh nhiệt. Ngoài ra cần lưu ý ban đêm không nên ngủ ngoài trời, dễ nhiễm sương lạnh.

+Tình dục dưỡng sinh

Vào mùa Hạ thảo mộc phát triển rất mạnh mẽ cỏ hoa cây lá xanh tươi nên tâm hồn con người cũng vui vẻ lạc quan, cơ thể cũng khoẻ mạnh, do đó sinh hoạt tình dục cũng thuận theo nhu cầu một cách tự nhiên mà không quá gó bó theo một công thức nào cả.

Cần chú ý là thời tiết nóng bức mùa hạ làm suy giảm công năng ngũ tạng, khí hơi độc do nắng nóng dễ xâm nhập vào cơ thể, vì thế nên tránh sinh hoạt tình dục những lúc khí trời quá nóng bức.

*Mùa Thu

Thời tiết mùa Thu ở giai đoạn “dương tiêu âm trưởng”, tức ánh nắng bớt gay gắt, nhiệt độ giảm

dần, dương khí thu lại, mà dương tiêu thì âm trưởng. Hoạt động sinh lý của cơ thể với hoàn cảnh biến hóa của tự nhiên thích ứng với nhau, do vậy nguyên tắc dưỡng sinh trong mùa Thu là bảo dưỡng Âm khí.

+Tinh thần, tình cảm, ý chí

Theo Đông y thì Phế thuộc kim tương ứng với mùa Thu, về tình chí là ưu sầu (ưu). Phế khí rất mẫn cảm đối với sự thay đổi khí hậu mùa Thu. Cây cỏ thì đìu hiu, sắc vàng đỏ lấn lướt màu xanh, gió luồn trong mưa lạnh, khí trời u uất làm con người cũng có tâm trạng não nề như mấy vần thơ thi sĩ Xuân Diệu mô tả trong bài “Đây mùa Thu tới”.

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồng buông xuống lệ ngàn hàng

Đây mùa thu tới mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.

Hơn một loài hoa đã ruing cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh

Những luồng rún ray rung rinh lá

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Thoảng một nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ

Đã nghe rét mướt luồng trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò

Mây vẩn từng không chim bay đi

Khí trời u uất hận chia ly

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Cảnh vật điêu linh như thế thường khiến người ta nảy sinh tình cảm bi lụy u uất. Vì thế cần giữ tâm yên tĩnh, thần chí an định, tính tình thư thả, tránh buồn rầu thương cảm, tránh ảnh hưởng cái khí thu sát mùa Thu mà còn thu nhận cái khí bình hòa của mùa Thu.

Tóm lại điều nhiếp tinh thần ý chí trong 3 tháng mùa Thu là cần “để chí an định, không suy nghĩ rối loạn”

+Ăn uống: Mùa Thu thuôc Kim, Phế cũng thuộc Kim. Mùa Thu Phế Kim vượng sẽ khắc Can (Mộc). Vì thế mùa Thu thường hao tổn tân dịch (do gan sinh ra) gây ra các bệnh phổi nóng ho hắng, song đau yết hầu, miệng khô lưỡi ráo,v.v…Vị chua thuộc Mộc. Kim khắc Mộc nên dùng vị chua để thu liễm bớt phế khí. Hạn chế vị cay (Kim) vì cay sẽ phát tán phế khí nên cần ăn ít các thức ăn cay nồng như hành tỏi, gừng, tiêu, mù tạt… Nên ăn rau trái thanh nhiệt như rau má, hạt sen…những trái cây có tính âm của Việt Nam có sẵn như chuối, đu đủ, nho…để dưỡng âm.

+Quần áo: Mát mẻ ban ngày, ấm áp ban đêm. Nhiệt độ mùa Thu giảm dần do đó cần tăng cường năng lực chịu đựng thích ứng với cái rét cuối Thu đầu Đông.

+Hoạt động: Ngủ sớm để tránh sương lạnh buổi tối, lại thuận ứng với tính thu liễm của dương khí. Dậy sớm lúc gà đã dậy, tập thể dục cho tĩnh táo, thư thái, để phế khí được thông đạt, tránh thu liễm thái quá.

Cần luyện tập thể dục, thể thao tùy theo thể lực và lứa tuổi. Môn Thái cực quyền dưỡng sinh thích hợp cho mọi thể lực và mọi lứa tuổi.

+Tình dục dưỡng sinh

Mùa Thu dương khí giảm, thu hẹp, nên cần giảm bớt dưỡng sinh tình dục. Dưỡng sinh mùa thu chủ yếu về sự vui vẻ, khoan khoái của tâm hồn, không nên để ý gây cản trở, làm hại sự thích ứng với khí hậu mát mẻ, hơi se lạnh mùa Thu.

Những người âm tinh không đầy đủ thì sự lắng dịu ham muốn tình dục trong mùa thu là cơ hội để hàm dưỡng âm tinh.

*Mùa Đông

Mùa Đông khoảng cách mặt trời quả đất xa nhất, ánh nắng tới trái đất giảm bớt năng lượng nên trời lạnh, vạn vật lui vào giai đoạn ngừng nghỉ, ẩn tàng, ngủ đông. Nội kinh cho rằng lúc này Âm khí thịnh cực, Dương khí tiềm tàng, vạn vật thường đi vào trạng thái ẩn tàng năng lượng chuan bị cho sinh khí bột phát vào mùa Xuân.

+Tinh thần, tình cảm, ý chí

Mùa Đông ngày ngắn đêm dài, trời lạnh lẽo, bầu trời u ám, thảo mộc trơ cành khẳng khiu, cảnh vật ấy ảnh hưởng đến tâm trạng con người cũng buồn bả, nhớ nhung như lời thơ nhạc trong bài hát Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương:

Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống

Đâu nay buông lửng lờ tiếng chuông

Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời

Cùng mây xám về ngang lưng trời

Thời gian như ngừng trong tê tái

Cây trút lá cuốn theo chiều mây

Mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều

Sương thướt tha bay, ôi! đìu hiu

Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu

Đêm đông, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng

Đêm đông, thi nhân lắng nghe hồn tương tư

Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu nghiêng bóng

……………………………………………………………………………………………

Môi trường cảnh vật tiêu cực trong mùa Đông ảnh hưởng đến tâm trạng tình cảm chúng ta nhiều, phép dưỡng sinh trong Nội kinh về phương diện điều nhiếp tinh thần là “khiến cho chí kín đáo mà không lộ ra, như có cái gì thầm kín, như có ý xuôi theo, như đã chứa đựng cái gì”, có ý nghĩa là giữ tinh thần ý chí được an định, gạt bỏ phiền nhiễu vọng động, khiến cho dương khí được tiềm ẩn bên trong. Dương khí tiềm ẩn có nghĩa là tuy giảm nhưng không mất hẳn vì Dương khí có vai trò là mầm sống nếu mất đi thì con người không tồn tại được. Nghiên cứu Ô vuông Lạc Thư chúng ta có thể thấy năng lượng luôn biến thiên từ 1 đến 9 có

nghĩa là không có một loại năng lượng Âm hoặc Dương triệt tiêu.

•+Ăn uống

Nguyên lý ẩm thực trong mùa Đông là “dưỡng Âm, nhưng không quấy nhiễu Dương khí”. Đây là nguyên tắc giữ cân bằng Âm Dương vì trong mùa Đông, Dương khí ẩn tàng nhưng cần giữ gìn không xuống quá thấp.Nếu Dương khí quá thấp, cơ thể dễ bị cảm nhiễm hàn tà, phát bệnh. để cần ăn những thức ăn ấm nóng, trợ Dương như thịt dê,

+Quần áo:

Mặc quần áo đủ ấm, tránh nhiễm lạnh.

các món có gia vị như gừng, riềng , tỏi…

•+Hoạt động

Mùa Đông lạnh lẽo, vạn vật tàng trú, nên ngủ sớm dậy muộn, dưỡng âm, tàng dương.

Ngoài ra cần phải điều nhiếp tinh thần ý chí trong 3 tháng mùa Đông là cần “khiến cho chí được ẩn giấu, như có gì thầm kín, như có gì giữ gìn”v.v…

+Tình dục dưỡng sinh

Mùa Đông khí trời lạnh lẽo Dương khí ẩn vào bên trong. Sinh hoạt tình dục cần điều độ. Nếu tình dục quá độ tinh khí tiết ra quá nhiều, sức đề kháng của cơ thể giảm sút, dễ nhiễm bệnh, do đó cần tiết chế tần suất sinh hoạt tình dục.

Cần lưu ý cần chọn nơi ấm áp, kín đáo khi sinh hoạt tình dục, tránh nhiễm lạnh, phong hàn, cảm cúm, hại đến sức khoẻ.

 Xem xét kỹ các phương pháp thuận ứng theo bốn mùa này chúng ta có thể rút ra một nguyên tắc dưỡng sinh chung đó là giữ cho cơ thể hòa hợp với sự biến đổi khí hậu, thời tiết, làm cho cơ thể thích ứng dần với sự biến đổi đột ngột về nhiệt độ, độ ẩm… để cơ thể không bị stress (sốc) do tiếp xúc với sự biến chuyển đột ngột của môi trường thì con người sẽ phản ứng tốt quen dần với môi trường , tức là đạt được sự cân bằng Âm Dương và khoẻ mạnh không bị tác nhân gây bệnh xâm nhập.

……………………………………………………………………………………………

June 27, 2014
Leave a comment

Phương pháp Tập luyện Hiệu quả Thái Cực Quyền Dưỡng Sinh

PP_TL_HQ_TCQ

   Thông tin sản phẩm:

   Tác giả: Lương Trọng Nhàn
   Nhà xuất bản Trẻ-2007.
   Tái bản:Nhà xb Trẻ năm 2010
   Phát hành: Cty VH Hương Trang
   Hình thức: Bìa mềm

   Kích thước: 14.5 x 20.5
   Số trang: 191
   Trọng lượng 200 gr
   Giá bìa: 31,000 VNĐ
   Phân phối: Tác giả
   (Sách có chữ ký của tác giả)

   Tác giả giữ bản quyền  

Giới thiệu:

Khát vọng giữ cơ thể luôn khoẻ mạnh có lẽ là ước muốn được loài người quan tâm nhiều nhất qua mọi thời đại . Cả Đông và Tây phương từ lâu đã biết được quy luật bảo vệ sức khoẻ cơ thể là phải vận động, vì sự hoạt động của bất cứ một vật thể nào cũng có tiềm năng của sự sống trong đó, trong khi sự bất động ẩn chứa mầm mống tàn lụi, sự chết như hình ảnh một chốt cửa bằng sắt lâu ngày không sử dụng cũng bị hoen rỉ và đi dần đến sự hủy hoại.

Con người có vận động thì sức khoẻ tốt hơn người không vận động, cho nên ta thấy những người lao động chân tay như nông dân ngư dân, công nhân lao động thường có sức khoẻ tốt hơn người làm việc bằng trí óc hay người nhàn nhã suốt ngày trong cùng một điều kiện dinh dưỡng, môi trường sống như nhau.

Lao động, hoạt động là có làm chuyển động các bắp thịt trong cơ thể, cơ bắp làm việc đòi hỏi một năng lượng là calories sản sinh trong cơ thể qua chu trình Krebb. Năng lượng cung cấp động lực cho tay chân ta vận động sẽ lại thúc đẫy phản ứng sinh hóa trong cơ thể làm cho các cơ quan trong cơ thể ta phải hoạt động, tăng cường sự trao đổi chất , sự đổi mới tế bào, đào thải chất cặn bả,v.v…làm cho các bắp thịt trong cơ thể ta linh hoạt hơn, có lực hơn và sức khoẻ cũng tăng cường hơn.

Trong sự vận động có những động tác có ích cho sức khoẻ nhưng cũng có nhiều động tác ở những tư thế không thích hợp hay vượt khỏi sức chịu đựng của cơ bắp thì có hại cho sức khoẻ. Ngoài ra lập đi lập lại một động tác trong lao động sản xuất cũng làm cho cơ bắp chịu nhiều áp lực vượt ra ngoài sức chịu đựng có thể làm nhức mỏi, trặc trẹo dây chằng cơ (gân), nặng hơn gây thương tổn đến tế bào đưa đến viêm nhiễm , hoại tử,v.v…

Như vậy thao tác trong lao động tuy có giúp chúng ta tăng cường vận động các cơ, dây chằng xương khớp có lợi cho sức khoẻ nhưng cũng có mặt trái của nó.

Ở phương Tây từ thời Cổ Hy Lạp người ta đã phát minh ra các môn thể dục trong đó lựa chọn những động tác phù hợp với từng lứa tuổi, từng vóc dáng, từng thời gian mà tập luyện thu được kết quả tốt hơn sự vận động cơ bắp trong lao động.

Còn ở phương Đông từ thượng cổ cũng tìm ra những võ thuật vừa tăng cường sức mạnh để chiến thắng dã thú và kẻ thù đồng loại vừa tăng cường sức khoẻ. Đó là những động tác đánh bằng nắm tay gọi là quyền 拳, bằng bàn tay gọi là chưởng 掌Ỉ và đánh đá bằng chân gọi là cước 腳.

Vì các động tác quyền cước trong võ thuật được tính toán hợp lý (như nhắm đến những điểm nguy hiểm đến sinh mạng) làm tăng hiệu quả của đòn thế trong tự vệ hay tấn công thú dữ hoặc kẻ thù hơn sức mạnh cơ bắp, người xưa thường nói: “lực bất như quyền”.

Bất cứ một sự vật, một hiện tượng trong thế giới tự nhiên đều có mặt tích cực là giúp ích cho đời sống muôn vật và mặt tiêu cực tác hại đến sự sinh tồn của các loài trong thiên nhiên, mà cổ nhân các dân tộc phương Đông đã xây dựng các học thuyết về “vũ trụ quan” và “nhân sinh quan” dựa trên nền tảng 2 “thuộc tính” tương phản nhưng bổ sung nhau đó là “Âm, Dương” phản ảnh hai mặt của vật chất, của các hiện tượng, các “vấn đề” đặt ra cho đời sống con người. Biết rõ qui luật Âm Dương, phải trái của sự vật con người sẽ tìm ra những phương pháp ứng xử với thế giới tự nhiên hài hòa, thuận lợi, nương theo những qui luật của vũ trụ, những tác động thường xuyên của tinh tú, của mặt trời mặt trăng, khí hậu, địa hình ,v.v… chúng ta sẽ hạn chế được những mặt trái (tính âm) trong cuộc sống và đạt được nhiều sức khoẻ hơn. Cũng dựa trên nền tảng triết lý Đông phương thì không có một sự vật, hiện tượng nào tuyệt đối âm hay dương cả, mà trong âm có dương và trong dương có tiềm ẩn tính âm, suy rộng ra những gì “cực âm” hay “cực dương” đều bị luật quân bình kéo về trang thái âm dương cân bằng để sự vật và hiện tượng đó tồn tại luật đó là luật phản phục, chúng tôi có phân tích kỹ trong cuốn “Cổ học phương Đông trong Nghệ thuật Kiến trúc”, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin, 2005.

Đa số các môn võ xưa nay đều luyện cho con người sự nhanh nhẹn , sự cứng cáp bắp thịt, tay chân để có thể phản ứng trong tự vệ hay chiến đấu , đây là tính chất dương (nhanh, cứng, mạnh). Sự luyện tập này cũng tăng cường sức khoẻ, nhưng trên thực tế qua thời gian tuổi càng cao, người tập càng xuống sức nhức xương , mỏi gối, trặc gân….vì con người đã dùng sức lực quá nhiều.

Y học Đông phương cho đây là “khí hậu thiên”, nếu không thu nhận được năng lượng từ vũ trụ tức “khí tiên thiên” thì sẽ hao hụt nhanh chóng. Chỉ có loại võ thuật nào chú trọng giữ cân bằng âm dương, đồng thời thu nhận được nguồn năng lượng vô tận của vũ trụ là “khí tiên thiên” thì sẽ tạo sức khoẻ lâu bền hơn, chúng tôi sẽ giới thiệu ở các chương sau.

Đứng trên quan niệm sức khoẻ theo y học hiện đại thì những môn võ của cả Đông và Tây đều có ích cho sức khoẻ nhưng cũng có mặt trái của nó là dễ gây chấn thương, và lâu dài có thể có những tác động bất lợi cho tim mạch, từ đó tuy có sức mạnh thật nhưng có thể đến một lúc nào đó lại lâm bệnh, nhất là bệnh về tim mạch -mà phần sau chúng tôi sẽ phân tích rõ.

Quyền thuật tuy có làm tăng hiệu quả của đòn thế nhưng sức lực này là do năng lượng chuyển hoá từ thức ăn của cơ thể có hạn định , năng lượng này chính là khí hậu thiên mau cạn kiệt. Chính Bồ Đề Đạt Ma một vị sư từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền đạo đã đến chùa Thiếu Lâm tham thiền diện bích (ngồi thiền quay mặt vào tường) trong 9 năm mới phát hiện một phương pháp tu luyện mới là “công phu” để tạo ra một năng lực mới trong cơ thể người luyện tập, đây chính là khí tiên thiên làm tăng hiệu lực của đòn thế và sức khoẻ lên nhiều lần, vượt lên trên quyền thuật một bực nữa nên mới có câu: “quyền bất như công”.

Công là nội lực có những tác dụng phi thường sẽ được phân tích trong các chương sau, mà Thái cực quyền là một loại võ thuật luyện công hữu hiệu.

Trích đoạn:

TRIẾT LÝ THÁI CỰC QUYỀN.

Lão Tử, một triết gia đại tài đầu tiên của Trung Hoa đề ra thuyết dưỡng sinh (ông gọi là nhiếp sinh) có hệ thống nhất, đã đề cao các tính “hư, tĩnh, nhu nhược, phác, vô vi (thuộc tính Am)” trong việc giữ gìn sức khoẻ và cư xử ở đời. Ông cho là để cho lòng trống không vô tri vô dục thì trừ được hết các mối oán hờn, lo lắng, tâm hồn sẽ bình thản, thanh tĩnh, không tranh giành, không có vọng tưởng như trong chương 16 Sách Đạo Đức Kinh: “ Hết sức giữ được cực hư, cực tĩnh, xem vạn vật sinh trưởng, ta thấy được qui luật phản phục. Vạn vật phồn thịnh đều trở về căn nguyên của chúng. Trở về căn nguyên thì tĩnh, (tĩnh là bản tính của mọi vật cho nên trở về căn nguyên gọi là trở về mệnh). Trở về mệnh là luật bất biến của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động mà gây họa”. Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì công bình (vô tư), công bình thì bao khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên, phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo, hợp với đạo thì vĩnh cửu, suốt đời không nguy” (theo Nguyễn Hiến Lê-Lão Tử Đạo Đức Kinh).(Trí hư cực, thủ tĩnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân, các phục kỳ qui căn. Qui căn viết tĩnh, thị vi phục mệnh. Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung. Tri thường dung, dung nãi công, công nãi toàn, toàn nãi thiên, thiên nãi đạo, đạo nãi cửu, một thân bất đãi).

Ý của Lão Tử khuyên chúng ta phải rất hư tĩnh bỏ hết thành kiến, ham muốn mà nhận xét qui luật của tự nhiên vạn vật là từ không sinh ra có rồi từ có trở về không, nếu hiểu và sống theo luật bất biến đó thì suốt đời không bị họa.

Chương 78, Lão Tử khuyên: “Nhu thắng cương, nhược thắng cường (Nhược chi thắng cường, nhu chi thắng cương). Ông dẫn chứng: “Trong thiên hạ cái cực mềm (là nước) chế ngự được cái cực cứng (đá); cái “không có” lại len vô được cái không có kẽ hở (đá)…” ( Thiên hạ chi chí nhu trì sinh, thiên hạ chi chí kiên. Vô hữu nhập vô gian…).

Đem cái qui luật này mà giải thích sự kiện “Hòn Phụ Tử sừng sửng ở Biển Hà Tiên từ khai thiên lập địa đến nay vừa bị lật nhào vào lúc 3 giờ 45 phút ngày 9/8/2006 vì nước biển xói mòn và vì đá vôi bị oxy hóa do không khí len vào trong kẽ đá thì thật là khoa học chính xác”.

Ông nhận xét sinh vật có sức sống thì mềm dịu, không có sự sống thì cứng đơ : “ Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc còn sống thì mềm dịu mà khi chết thì khô cứng. Cho nên cường mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống. Vì vậy binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì bị chặt. Cứng mạnh phải ở dưới, mềm yếu được ở trên. ( Nhân sinh dã nhu nhược, kì tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh dã nhu thủy. Kỳ tử dã khô cảo. Cố kiên cường giả, tử chi đồ; nhu nhược giả, sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc binh. Cố kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng”(Sách đã dẫn).

Ông cho những kẻ cường bạo thì sẽ bất đắc kỳ tử (Cường giả bất đắc kỳ tử), vì cái “cường” của họ thực ra chỉ là ‘bạo” chứ không phải là cường, chính nhu mới là cường (Thủ nhu viết cường).“Cong thì sẽ được bảo toàn, queo thì sẽ thẳng ra, trũng thì sẽ đầy…( Khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc doanh…). Câu này có ý nghĩa rất thâm thúy như hình ảnh cây sậy bị gió thổi thì cong xuống thì không gãy đổ còn cây sồi cứng mạnh đứng thẳng thì trốc gốc, mà thi hào La Fontaine, Pháp, sau này đã mô tả trong bài “Le chêne et le roseau”, tức là chịu khuất phục thì được bảo toàn.

Kinh Dịch thực tế hơn, chú trọng đến xã hội hơn vì nhấn mạnh về Âm Dương, về giống đực, giống cái, trai gái, về sự sinh sinh hoá hoá hơn.

Âm Dương là hai “khí” tức là hai năng lực, hai nguyên lý căn bản của vũ trụ, Dịch gọi là Đạo âm dương. Để hiểu rõ hơn về hai năng lực (còn gọi là Khí) Âm Dương chúng ta nên hiểu sơ qua về quá trình thành lập vũ trụ:

Vào khoảng gần 15 tỉ năm trước, (vũ trụ) không có gì cả, một khoảng không vô tận được hiểu như là nguyên tử nguyên thủy -cho đến khi hiện tượng Big bang xảy ra. Rồi năng lượng ánh sáng xuất hiện và đốt cháy khoảng tối tăm , phóng thích sóng năng lượng, tạo nên vũ trụ. Khỏang không vô tận chia làm 2 dạng năng lượng có khả năng phát sinh năng lực. Những năng lực này tiếp tục phát triển và suy tàn, một loại chiếm ưu thế trên loại kia cho đến tột đỉnh, rồi lại nhường chổ cho loại kia cũng như vậy. Hai năng lượng đối lập bổ túc lẫn nhau đó là Âm và Dương. Chúng cạnh tranh sức mạnh nhưng cũng cân bằng, sự nỗ lực của chúng gây nên sự căng thẳng làm động lực cho sự biến hóa. Chúng đối lập nhưng thống nhất nên mọi vật trong vũ trụ đều được tạo lập và duy trì hai năng lực này. Quan niệm này đã được công nhận từ năm ngàn năm nay của cổ nhân Trung Hoa và vẫn còn nguyên vẹn giá trị ở thời đại khoa học phân tích và vật lý nguyên tử hiện đại. Đây là một qui luật, một trật của vũ trụ mà cổ nhân gọi là Đạo.

Chữ Đạo 道 nghĩa thông thường là đường đi, sau trỏ cái lý phải theo như đạo làm người, đạo vợ chồng, đạo làm con…; sau cùng nghĩa mở rộng ra nữa là trật tự thiên nhiên, là luật thiên nhiên, luật biến hoá của vũ trụ, (Lão tử dùng chữ đạo để chỉ bản nguyên của vũ trụ) .

Hệ từ thượng, Chương V có viết: “ Một âm, một dương gọi là Đạo; cái đạo ấy phát ra thì tốt lành, khi nó cụ thể hoá ở người thì gọi là tính”(Nhất âm, nhất dương chi vị đạo; kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã) , có nghĩa là có Âm và có Dương là có đạo, hoặc Âm Dương đủ đôi phối hợp là Đạo, Đạo đó phát ra một cách tự nhiên thì tốt lành, thực hành nó là hợp với nhân tính .

Cho nên Kinh và truyện có nhiều chỗ nhắc đến đạo Âm Dương:

Chương 5, Hệ từ hạ:

“Giống đực giống cái phối hợp tinh khí sinh ra vạn vật” (Nam nữ cấu tinh, vạn vật hoá sinh) .

Chương 11, Hệ từ thượng:

“Đóng cửa gọi là Khôn, mở cửa gọi là Càn”. Càn Khôn đây là nói khí âm khí dương, tức là căn cứ vào hoạt động giao phối giữa giống đực, giống cái mà giảng về nguồn gốc vũ trụ vạn vật.

Thoán truyện cũng nói về sự giao phối giữa trời và đất:

Quẻ Thái:

“Trời đất có giao nhau rồi vạn vật mới thông” (Thiên địa giao nhi , vạn vật thông dã).

Quẻ Hàm:

“Trời đất cảm nhau mà vạn vật hoá sinh” (Thiên địa cảm nhi, vạn vật hoá sinh) .

Quẻ Cấn:

“Trời đất hội nhau thì vạn vật sinh trưởng, phát đạt rõ ràng” (Thiên địa tương ngộ , phẩm vật hàm chương dã) .

Quẻ Qui muội:

“ Trời đất không hội nhau, thì vạn vật không hưng thịnh lên được” ( Thiên địa bất giao, nhi vạn vật bất hưng) .

Như vậy Dịch coi đạo Âm Dương là quan trọng nhất vì có giống cái giống đực mới có vạn vật (thực vật, động vật), có con người; có Nữ có Nam mơi thành vợ chồng, rồi mới có gia đình, có xã hội, có lễ nghĩa, gốc của đạo lý, cho nên đầu Kinh Thượng là hai quẻ Càn, Khôn và đầu Kinh Hạ là hai quẻ Hàm, Hằng (Nam nữ cảm nhau rồi thành vợ chồng) (theo Nguyễn Hiến Lê-sách đã dẫn ) .

Như vậy Lão Tử đề cao vai trò của tính Âm còn Dịch học coi sự cân bằng Âm Dương là quan trọng, các triết lý này đã được các học giả, các danh y nổi tiếng như Hoa Đà (Tam Quốc), Cát Hồng (283-363 đời Đông Tấn), Hứa Luyện Bình, Trình Linh Quang, Lý Đạo Sơn, Ân Lợi Đình (đời Đường) Trương Tam Phong, Nhạc Phi (đời Nam Tống), Thích Kế Quang, Du Đại Du (đời Minh), Họ Trần ở Trần gia câu, họ Dương ở Hà Bắc (đời Thanh)… áp dụng một cách nhuần nhuyễn trong các môn rèn luyện thân thể chống lại bệnh tật mà đỉnh cao là môn Thái cực quyền tồn tại đến ngày nay.

Theo chúng tôi giới Đạo sĩ của Đạo giáo là những người đầu tiên thử nghiệm các phương pháp tu luyện dưỡng sinh sau nhiều lần thất bại trong việc luyện đan, tìm thuốc trường sinh họ đã tích luỹ được kinh nghiệm để phát kiến ra các phép thổ nạp đạo dẫn, nội công động luyện là những phép tu luyện thực tế hiệu quả tuy không “trường sinh bất lão” nhưng ít nhất cũng sống thọ hơn người thường, làm cơ sở cho Thái cực quyền sau này cũng như chính nhờ những thí nghiệm hóa chất trong khi luyện đan tìm thuốc trường sinh xảy ra nhiều phản ứng cháy nổ mà họ đã phát hiện ra thuốc súng cho dân tộc Trung Hoa sớm nhất thế giới.

Đạo giáo là một tôn giáo gọi xuất phát từ các tín ngưỡng dân gian thờ các thần linh, tiến hành tế tự cầu đảo theo phong tục Đồng cốt thời nguyên thủy, kết hợp với các phương thuật thần tiên và lấy triết học Lão Trang làm căn cứ tư tưởng. Đạo sĩ lúc này thường được gọi là Phương sĩ tìm trăm phương ngàn kế tìm kiếm và thực hiện kỳ phương dị thuật để thỏa mãn nguyện vọng trường sinh bất tử của một số người được các đế vương sủng ái điển hình như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế luôn có các Đạo sĩ giúp đỡ họ thực hiện ảo tưởng trường sinh. Phương thuật của các Đạo sĩ này rất nhiều như cúng tế cầu đảo, hái thuốc, luyện đan, phục thực dưỡng sinh, đạo dẫn, án ma,v.v…Đạo sĩ lấy Đạo trong học thuyết Lão Tử vốn có tính chất thần bí (vào thời đó) khó nắm bắt như trạng thái tự nhiên vô vi vô hình vô danh nguyên thủy hình thành lúc vũ trụ trước khi khai thiên lập địa còn hỗn độn. Họ thần hóa Lão Tử và tôn là “Thái thượng Lão quân”, vị giáo chủ của Đạo giáo.

Giới Đạo sĩ còn pha trộn ý niệm “thanh tĩnh vô vi”, coi trọng dưỡng sinh và phương thuật tu tiên để xây dựng phương pháp tu luyện cho riêng mình.

Thời kỳ đầu Đạo giáo chủ yếu truyền bá trong quần chúng lớp dưới, lại thường được dùng làm ngọn cờ của các phong trào khởi nghĩa nông dân như giặc Khăn Vàng (Hoàng Cân), Đạo gạo (Mễ đạo), Đạo ma (Quỷ đạo) đều bị chính quyền dẹp tan hoặc hàng phục.

Về sau đặc biệt từ đời Đông Tấn Đạo giáo bắt đầu thẩm thấu vào chính quyền, giới đạo sĩ bớt dùng pháp thuật phù phép cầu đảo mà chuyển qua các phương pháp tu luyện khoa học hơn như luyện thuốc trường sinh, dưỡng sinh rèn luyện thân thể trong đó các đạo sĩ vừa là danh y nổi tiếng như Hoa Đà, Cát Hồng là những nhà tiên phong đề xuất phương pháp vận động thân thể hợp lý kết hợp với hô hấp để luyện “nội khí”làm cho con người sống lâu khoẻ mạnh.

Hoa Đà tự là Nguyên Hóa, một đạo sĩ danh y đời Tam Quốc (141-208), người nước Bái nay là tỉnh An Huy, Trung Quốc, là người đầu tiên biết sử dụng thuốc gây để khoét mụn nhọt, mổ bụng …là người thực hành giải phẩu thành công trước phương Tây 1.600 năm, cũng chính ông là người đầu tiên nghiên cứu những động tác một cách khoa học và có hệ thống nhất và đề ra môn luyện tập vận động toàn thân theo đạo lý “hộ xu bất đố, lưu thủy bất hủ (chốt cửa không bị mối mọt, nước chảy không hôi thối), giúp tăng cường sức khoẻ cho con người mà ngày nay chúng ta gọi là môn “thể dục”. Ông quan sát các động tác của hổ, hươu, gấu, khỉ và chim và mô phỏng chế ra bài quyền “Ngũ cầm hí” để dạy mọi người luyện tập tăng cường sức khoẻ. Đây là những động tác thể dục đầu tiên ở phương Đông có bài bản , có kết hợp ý thức với hơi thở và động tác.

Những động vật mà ông quan sát thấy chúng ít khi bị bệnh hoạn trừ khi có đại dịch nhưng hiếm khi xãy ra vào thời ấy, trong khi con người hưởng nhiều tiện nghi hơn thì thường tật bệnh, phải chăng những động tác trong sinh hoạt lao động của con người không giúp ích gì nhiều cho sức khoẻ? Từ những suy nghỉ ấy Hoa Đà phát kiến ra môn rèn luyện thân thể đầu tiên nói trên. Môn này mô phỏng động tác vồ chụp của hổ để luyện hai tay, động tác xoay đầu duỗi cổ của hươu để luyện cơ bắp đầu cổ và xương sống, cải thiện lưu thông huyết trong đại não; tư thế nằm nghiêng của gấu để luyện sự co gập bên hông; động tác nhãy nhót trên mũi chân của khỉ để luyện hai chân; động tác quạt cánh bay liệng của chim để luyện các khớp của tay, các cơ ở ngực, hổ trợ cho sự hô hấp.

Ngũ cầm hí gồm các động tác xoay vặn eo lưng, vận động các khớp xương, các gân cơ, tác động đến các tuyến nội tiết, giúp cho chức năng tiêu hoá được bình thường, gân mạch nhu hoà, xương tuỷ kiên cố, tai mắt được thông sáng, cơ thể cường tráng, khiến cho tà khí không làm hại được, chủ yếu là tăng sự lưu thông của khí huyết, giống như bản lề cửa nhờ mở đóng nên luôn luôn chuyển động thì không bị rĩ sét vậy.

Cũng chính Hoa Đà là người đầu tiên phát kiến ra một phương pháp luyện tập tăng cường sức khoẻ kết hợp giữa động tác thể dục và hô hấp mà đời sau gọi là “khí công”: thật vậy trong “Ngũ cầm hí”, Hoa Đà đã kết hợp nhịp nhàng giữa hoạt động gân cơ và luyện thở, “dẫn khí” điều hoà trạng thái hoạt động của các cơ quan nội tạng cho cân bằng, kiềm chế quá trình lão hoá, cơ thể như trẻ lại, tráng kiện. Các thuật dưỡng sinh đời sau cũng dựa trên các nguyên tắc căn bản này, chỉ đưa thêm những lý thuyết về Đạo của Lão Tử và Kinh Dịch vào cho phong phú và hợp logic hơn.

Cát Hồng hiệu Bão Phác Tử (283-363) thời Đông Tấn, người ở Đan Dương( nay là huyện Cù Dung thuộc tỉnh Giang Tô), trong cuốn Bão Phác Tử, ông đã hệ thống hóa lý luận tu tiên và cụ thể hóa phương pháp tu luyện thành tiên của mình. Ông công kích Đạo giáo dân gian nguyên thuỷ, chủ trương dùng việc dưỡng sinh làm mục tiêu tu luyện, đưa tư tưởng trung hiếu nhân nghĩa và danh giáo cương thường của Nho gia dọn đường cho chính quyền tiếp nhận Đạo giáo. Cát Hồng đồng thời là một danh y đề cao sự luyện tập thân thể như Hoa Đà trong việc phòng trị bệnh, chính ông đưa ra hình ảnh then cài cửa lâu ngày không sử dụng sẽ bị sét rỉ như con người không vận động vậy.

Hoa Da-Truong T Phong

   Đến đời nhà Lương (502-557) một nhà sư là hoàng tử nước Nam Thiên Trúc, Ấn Độ sang thuyết giảng đạo Phật, Lương Vũ đế có mời tới nhưng nhà Vua không trọng dụng, ông vượt sông Hàng Hà và sang chùa Thiếu Lâm ở đỉnh Thiếu Thất, thuộc núi Tung Sơn , tỉnh Hà Nam, ông nhận thấy các sư sãi có luyện tập võ công nhưng tình trạng sức khoẻ rất kém, nhiều tăng sĩ yếu đuối và ngủ gật trong khi ông thuyết giảng. Ngài liền tìm cách giúp đỡ tăng chúng bằng cách lui vào tham thiền diện bích 9 năm trong một hang động và phát kiến ra môn võ công kết hợp giữa ý chí , hô hấp và động tác và viết ra hai cuốn sách về võ thuật là Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh. Dịch Cân Kinh là sách dạy cách vận động nhằm chuyển dịch gân cốt tạo sức lực cho võ sinh tăng cường sức khoẻ trước khi vào tập luyện võ Thiếu Lâm. Còn Tẩy tủy kinh là sách dạy phương pháp luyện tập nội tâm trong sạch theo quan niệm tuỷ xương trong sạch thì sinh tinh tốt, tinh sẽ hóa khí và khí hóa thần. Thần sắc vững thì sức khoẻ dồi dào tiếp thu các môn ngoại công tốt hơn.

   Nhờ truyền dạy các bí kíp võ công này mà Thiếu Lâm trở thành ngôi sao Bắc Đẩu trong vòm trời võ thuật Trung Quốc và lưu truyền cho đến ngày nay.

   Võ công Thiếu Lâm chia thành 2 loại là nội công và ngoại công.

   Nội công là tập luyện giúp cho các cơ quan nội tạng chịu đựng được sự khắc nghiệt của môi trường sống, cũng như sự tác động nhân tạo bên ngoài vào cơ thể.

Nội công có hai phương pháp tập luyện là “nội công tĩnh luyện” và “nội công động luyện”.

Nội công tĩnh luyện là phương pháp ngồi thiền một chỗ để luyện hô hấp đưa khí vào cơ thể mà thuật ngữ gọi là “khí tiên thiên” đi vào cơ thể hoà nhập với “khí hậu thiên” tạo ra “nguyên khí” của con người tức là “nhân khí” phân biệt với ‘thiên khí” của vũ trụ đưa tới và “địa khí” trong lòng trái đất toả ra. Phương pháp này tập để tăng cường sức khoẻ và chữa trị một số bệnh, cũng như bổ sung sức mạnh cho các đòn đánh của ngoại công.

Nội công động luyện là phương pháp luyện tập công lực qua lối vận động tay chân kết hợp với hít thở, tức là lối vận động để tạo sức khoẻ, sức mạnh cho cơ thể. Dịch cân kinh, Thập bát la hán công của Thiếu Lâm, Ngũ cầm hí của Hoa Đà, Hình ý quyền của Nhạc Phi hay Thái cực quyền nguồn gốc Võ đang chính là loại nội công động luyện này. Đây chính là loại võ thuật trung gian giữa Nội và Ngoại công.

Ngoại công là phương pháp luyện da, cơ bắp cho săn chắc, chịu đựng được những va chạm mạnh, làm cho cơ thể không bị thương tổn trong va chạm, chiến đấu, đồng thời luyện tập các chiêu thức cho quen thuộc trở thành quán tính khí chiến đấu sẽ nhanh tay lẹ mắt phản ứng kịp thời trước đòn tấn công chớp nhoáng của đối phương.

Dù có luyện nội công thâm hậu nhưng sức người có hạn nên luyện tập võ công Thiếu Lâm chiến đấu là một loại quyền thuật có động tác nhanh và mạnh (thuật ngữ gọi là “ngạnh công”) mà quá sức sẽ bị thương tổn và có những trường hợp trở thành tàn phế.

Thật ra các môn ngoại công cũng rèn luyện khí công theo cách cương trước rồi dần dần trở thành nhu sau, ngược lại nôi công hay nội gia rèn luyện nhu trước để xây dựng cái “gốc rễ” sức mạnh của cơ thể trước, rồi mới dùng cái “ nội lực” này để tạo sức “kình” cho các đòn thế chiến đấu.

Những người mới tập võ công mà đi ngay vào ngoại công tức là tập luyện ngay lối cương mãnh có thể sẽ bị bệnh tim mạch về sau này (chúng tôi đã chứng kiến một số người luyện Thái cực đạo thời trẻ, khi lớn tuổi hay bị bệnh tim, nguyên nhân này các bác sĩ giải thích rất rõ (1) và chắc chắn không có một căn bản tốt như người đã tập nội công trước.

(1) Có lẽ những động tác nhanh, mạnh làm tăng nhịp tim đột ngột, khi ngưng nghỉ người tập không chú ý vận động nhẹ dần để nhịp tim chuyển tiếp trở lại trạng thái bình thường đưa đến những trạng thái sốc cho tim, tương tự như cái compressor (motueur) của tủ lạnh, vừa tắt xong, nếu bật lại ngay chưa hồi gaz sẽ mau hư hoặc cháy ngay tức khắc.

 Mãi đến thế kỷ 13, Trương Quân Bảo (hiệu là Tam Phong) -một đạo sĩ tu theo Đạo gia mà hiện nay các học giả chưa thống nhất được năm sinh năm mất, có người cho là ông xuất hiện vào thời Nam Tống, có người cho là thời Minh sơ, có người cho là có hai Trương Tam Phong vào hai thời kỳ trên, có người lại cho là có một Trương Tam Phong cho nên gán cho ông có tuổi thọ đến 300 năm! vì trãi qua nhiều triều đại!- rất tinh thông võ Thiếu Lâm và cả Khí công, nhận ra khuyết điểm trên sau khi vân du khắp nơi như Tứ Xuyên, Hồ Nam, Hồ Bắc ông về núi Võ Đang và một hôm luyện võ trên núi được mục kích một cuộc chiến đấu giữa rắn và chim ưng. Chim ưng dùng móng vuốt, mỏ tấn công mạnh mẽ và nhanh nhẹn rắn, nhưng với sự uyển chuyển oằn mình của rắn đã hoá giải được tất cả các đòn tấn công của chim ưng, nó không làm gì được mà phải bay đi. Trương Quân Bảo đã nghiên cứu nhận thấy lối đánh cuả Thiếu lâm quyền mạnh bạo, buộc người tập phải dùng quá nhiều sức làm hao phí sức lực, suy kiệt cơ thể, trái với tinh thần cuả Phật Giáo là tạo sức khoẻ để hoàn thiện con người cả về tinh thần lẫn thể chất.

Dựa vào thuyết Âm Dương, Ngũ Hành và Kinh Dịch, phép Dưỡng Sinh của Lão Tử, kết hợp với phương pháp luyện khí của Đạt Ma Tổ Sư, phép đạo dẫn, thổ nạp… đạo sĩ Trương Tam Phong đã tìm ra một loại quyền thuật mới . Nguyên tắc cuả nó là thư giãn tự nhiên, hoà nhịp với thiên nhiên, kết hợp rèn luyện nội lực và ngoại lực giúp cho việc điều hoà vận khí trong cơ thể để phát triển cơ bắp và tăng gia chức năng cuả nội tạng. Khi tập luyện tuy hướng về sự mềm mại uyển chuyển nhưng lúc tự vệ vẫn có thể dùng lối đánh mạnh bạo cứng cỏi để làm chùn bước địch thủ.

Ông là người đầu tiên đưa ra một nguyên tắc mới mẻ táo bạo vô cùng quan trọng trong quyền thuật là áp dụng Dịch lý phát triển “khí tiên thiên” từ Thái cực sinh Lưỡng nghi, rồi sinh Bát quái tức là mọi động tác đều dựa vào khí tiên thiên luyện “khí” hoá “thần”gia tăng sức mạnh lên bội phần ngươc với ngoại công Thiếu Lâm luyện cơ bắp để lấy sức phát chiêu là sử dụng “khí hậu thiên” do cơ thể tạo ra bằng thức ăn (calories), là một loại năng lượng có hạn định và con người tiêu phí nhiều sức lực trong chiến đấu nên dễ bị khuất phục. Đó là nguyên tắc này là lấy yếu chống mạnh lấy mềm chống cứng, lấy chậm chống nhanh, lấy cái vô lực chống cái hữu lực, thật ra nguyên tắc này cũng cũng đơn giản thôi hằng ngày ta vẫn thấy, nước chảy thì đá mòn, bão tố dễ dàng làm trốc gốc cây cổ thụ nhưng lau lách chỉ oằn mình rồi lại đứng lên, rùa và thỏ nếu thi đường trường thì thỏ thua không phải vì ỷ lại chạy nhanh, nghỉ nhiều mà vì đuối sức,và công dụng của chén bát, cửa nẻo là gì nếu không phải là khoảng không bên trong của chúng. Trong thực tế giao đấu có thể hiểu như sau: Địch thủ dùng “ngạnh công” ra chiêu mạnh và nhanh, nhưng bên “nhuyễn công” né tránh để đưa đòn đánh của địch thủ vào chỗ trống không, có thể làm mất đà mà bị ngã té, hoặc đòn đánh vận lực quá nhiều nên mau mệt còn bên “nhuyễn công” ra chiêu chậm lâu mệt dễ thủ thắng hơn.

Dựa trên nguyên lý này một trường phái luyện võ mới có những động tác chẫm rãi uyển chuyển nhưng vẫn có tác dụng tích lực để tự vệ mang tên “Nội gia quyền” ra đời truyền bá tại núi Võ Đang.

Hiện nay núi Võ Đang là một danh thắng của Trung Quốc được UNESSCO giúp trùng tu và được liệt vào danh sách di sản thế giới. Các đạo sĩ ở đây vẫn tập luyện những võ công truyền thống, đặc sắc nhất là Kiếm pháp cũng biến hóa âm dương bát quái nhưng không giống Thái cực kiếm bên ngoài và những công phu quyền cước nặng về luyên khí và động tác cũng khác hẳn lối đi quyền nhẹ nhàng chậm rãi của Thái cực quyền. Cũng chính vì lý do này mà nhiều người không công nhận Trương Tam Phong là sáng tổ Thái cực quyền.

Có thể nói môn võ của Trương Tam Phong chưa phải là Thái Cực Quyền nhưng là nền tảng cho các Võ thuật đặt căn bản trên thuật dưỡng sinh của Đạo gia mà Lão tử, Trang tử đã có đề cập trong Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh .

Cái quan trọng nhất là họ Trương đã vạch ra một nguyên tắc võ thuật độc đáo là “dùng nhu chế cương, lấy nhược thắng cường” đặt nền móng cho các môn phái Bát quái quyền, Hình ý quyền (có sách cho là do nguyên soái Nhạc Phi đời Nam Tống sáng lập trước đó để huấn luyện binh sĩ), Lục hợp bát pháp và sau này là Hiệp Khí đạo (Aikido) và Nhu đạo (judo) của Nhật Bản.

Qua đời Minh, Thanh, phương pháp luyện võ này phổ biến nhiều nơi. Thời kỳ này còn mang những tên như :

-“Trường quyền” là bài quyền dài vì bài quyền liên miên lâu dứt.

-Miên quyền là bài quyền liên miên bất tận.

-Thập tam thế gồm 13 thế:bằng, lý, tê, án, thái, liệt, chẩu, kháo là bát quái và tấn bộ, thoái bộ, tả cố(liếc), hữu miện (vọng), trung định là ngũ hành.

– Nhuyễn thủ tức tay mềm là múa quyền uyển chuyển.

Đời vua Cao Tôn Hoàng Lịch, nhà Thanh. có Vương Tông Nhạc, một võ sư dân gian ở Sơn Tây dùng “Chu Tử toàn thư” và “Kinh Dịch” để giải thích “quyền lý” và viết thành sách “Thái cực quyền luận”. Vương truyền lại cho gia đình họ Trần ở Trần gia Câu, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam. Họ Trần lại truyền cho nhau đến 14 đời thì có Dương Phước Khôi tự là Lộ Thiền theo học ông Trần Trường Hưng ở Trần gia Câu, Hà Nam luyện tập “Nhuyễn công quyền”, nhờ khiêm tốn học tập, ông tiến bộ rất nhanh nhiều lần tỉ thí đánh bại nhiều võ sư danh tiếng cuả các môn phái khác. Dương Phước Khôi truyền đến đời cháu là Dương Trừng Phủ và môn đồ là Võ Hà Thanh và chính tên gọi “Thái Cực Quyền là do họ Võ đặt ra đầu tiên.

Tựu trung vấn đề xác định nhân vật nào là người “sáng tổ” của Thái cực quyền ngay ở Trung Quốc cũng chưa thống nhất với nhau, nếu nói về người đã đặt nền móng cho lối vận động có tính cách “quyền thuật” phải nói là Hoa Đà vì bài “Ngũ cầm hí” có những đặc điểm làm cơ sở cho các võ công về sau. Đó là các đặc điểm:

1-Tùng tĩnh tự nhiên:

Là giữ thân thể, tay chân luôn tự nhiên linh hoạt không gò bó, câu thúc.

2-Ý khí hợp nhất:

Là giữ hơi thở hoà theo ý nghĩ ăn nhịp với tứng động tác và đều đặn nhịp nhàng.

3-Động tĩnh tương kiêm:

Là động, tĩnh gồm cả trong và ngoài tức là tay chân vận động thì hô hấp điều khí vận động bên trong, thân thể tứ chi bên ngoài tĩnh kết hợp với tâm thần an dật.

4-Thượng hư hạ thực:

Từ đan điền (phần rốn) trở lên nữa thân trên giữ trạng thái thả lỏng (hư) , còn phần rốn trở xuống là thực tức là tạo điều kiện cho “khí trầm đan điền”.

5-Tuần tự tiệm tiến:

Là không gấp gáp nôn nóng tập cho mau thuộc bài rồi bỏ dỡ mà nên từ tốn kiên trì tập luyện dài lâu, thường xuyên ô luyện.

6-Thần hình hợp nhất:

Là theo đúng cả về hình thức và thần thái mỗi động tác của loài vật.

7-Động tác viên hoạt:

Ap dụng nguyên tắc của Lão Tử : “Cong thì sẽ được bảo toàn…” nên các động tác theo đường cung tròn và liên tục, ở những chỗ chuyển thức phần “hình” giống như đứt nhưng phần “khí” phải giữ liên tục.

8-Miên man hàm sức:

Là vận động mềm mại chẫm rãi, hơi thở dài và cũng chậm như không dùng đến một chút sức nào, mà tích chứa sức lực (hàm sức).

9-Tiên hậu nghiêm cẩn:

Là giữ đúng thứ tự từng động tác của mỗi Cầm hay mỗi Hí, đồng thời giữ đúng thứ lớp của các Hí. Thường động tác đi từ đơn giản đến phức tạp chẳng hạn thứ lớp thông dụng là Hùng, Hạc, Lộc, Hổ, Viên. Chỉ khi trị bệnh có thể thay đổi thứ lớp này để tập những động tác thích hợp chữa trị một bộ phận thân thể nào đó.

10-Vong:

Tức là phối hợp hơi thở với động tác tới mức thở tự nhiên giống như quên thở vậy.

11-Độ số tùy lực:

Tuỳ theo thể trạng là luyện tập, người yếu, hoặc mới tập có thể tập một Hí , mỗi động tác trung bình 8 giây lặp lại từ 3-5 lần, nếu luyện cả 5 Hí thì mỗi động tác 1 lần là đủ. Trung bình một buổi tập vào buổi sáng từ 20 phút tới 30 phút là vừa. Nếu người quá yếu thì chỉ tập vài động tác trong 10 phút cũng đủ.

12-Đắc tam ổn:

Trước khi khi khởi thức phải có những động tác khởi động thân thể chậm rồi vào thức phải vận động từ chậm rồi nhanh dần khi thu thức thì phải từ nhanh sang chậm dần rồi mới ngưng hẳn , không đột ngột vận động và ngưng nghỉ.

13-Hòa trạng:

Là luyện tập trong môi trường xung quanh tốt và trạng thái thể chất tinh thần điều hòa. Tức là không tập trong chỗ có mưa gió lạnh lẽo, nắng nóng, bụi bặm hay bị bít kín,v.v..và lúc quá đói, quá no, quá mệt mỏi, quá hưng phấn hay hoang mang sợ hãi,v.v..Tập vào buổi sáng là tốt nhất, sau khi vệ sinh cá nhân xong . Tập nhẹ nhàng không đổ mồ hôi nhiều.

14-Tập trung tinh thần:

Không suy nghĩ miên man mà chú ý đến động tác và hơi thở điều khí.

15-Thường luyện:

Phải tập luyện thường xuyên hằng ngày không được bỏ ngang hoặc bỏ một thời gian rồi tập lại.

Qua những đặc điểm trên ta thấy nguyên tắc“Ngũ cầm hí” hầu hết đều giống với Thái cực quyền, đều dựa trên các triết lý của Đạo gia và Dịch học như:

-Tùng tĩnh tự nhiên.

-Kết hợp động tĩnh, hư thực, trong ngoài, trên dưới, ý thức và động tác, hơi thở và chiêu thức…

-Chú trọng sự chậm rãi, an định tinh thần tức là trọng sự “hư tĩnh”, tinh thần bất tranh của Lão .

-Hòa trạng: giữ cho cơ thể được ở trạng thái điều hoà bên trong như hơi thở và động tác chẫi rãi không đột ngột gây sốc cũng như giữ sự thích ứng với môi trường xung quanh không có sự khác biệt nhiều mà có sự hoà hợp.

Cho nên có thể nói Hoa Đà là người đặt nền móng cho các loại “nội công động luyện” phát triển về sau trong đó có Thái cực quyền vậy.

Hầu hết nhà nghiên cứu ngày nay cho rằng những bài quyền lưu truyền ngày nay có những chiêu thức giống vơi Trần gia câu nên cho là Trần Vương Đình khai sáng Thái cực quyền.

Hiện nay các nhà nghiên cứu đều công nhận rằng sự hình thành Thái cực Thái cực quyền có nguồn gốc văn hóa sâu xa hơn, đó là sự hấp thu, tổng hợp các nguyên tắc Dưỡng sinh của Lão Tử, Trang Tử, các nguyên lý Âm Dương của Kinh Dịch vào sự vận động cơ thể bảo vệ sức khoẻ theo một hệ thống bài bản và liên tục cải tiến quyền pháp từ thời Hoa Đà cho tới đời nhà Minh. Đặc biệt “32 thế Trường quyền của danh tướng nhà Minh là Thích Kế Quang (1528 – 1587) kết hợp với phương pháp “đạo dẫn”, “thổ nạp” của phái “Đạo gia” và thuyết “Kinh lạc” của Trung y dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch là cơ sở triết học của mọi nền học thuật phương Đông thời bấy giờ.

Thích Kế Quang làm tham tướng dưới triều Gia Tĩnh, khi trấn nhậm vùng Triết Giang, Phúc Kiến ông có công đánh dẹp bọn hải khấu Nhật Bản nên được phong Tổng đốc Phúc Kiến. Ông rất chú trọng luyện tập binh sĩ sao cho khi lâm trận họ chiến đấu hiệu quả, nên quân đội dưới quyền ông rất nổi tiếng gọi là Thích gia Quân. Ông đề ra phương pháp “Trường binh (binh khí) đoản dụng” tức là lúc ra trận thương dài rất khó dùng phải đâm cho chính xác nếu trật địch dùng binh khí ngắn tấn công thì trường thương khó xoay xở kịp do đó ông chủ trương luyện cho binh sĩ “thủ pháp” để cầm vũ khí cho vững và động tác chuẩn xác và “thân pháp” để biết cách tiến thoái khi lâm chiến dù không đánh trúng địch thì cũng biết tiến lui làm cho kẻ dùng đoản binh không tiếp cận được. Thích Kế Quang đã trước tác Quyền kinh có 32 thức để huấn luyện binh sĩ, khác hẳn với các võ thuật trong dân gian.

Tiếp đến đời Thanh có Trần Vương Đình vốn là giám quân giỏi võ nghệ của nhà Minh nay ẩn cư đem phối hợp các sở trường của nhiều môn phái với 29 thế trong Quyền kinh 32 thức của Thích Kế Quang thành một bài quyền riêng và truyền dạy cho con cháu. Gia phả của Trần gia có ghi rõ ông sáng tác 3 môn Quyền, Đao, Thương nhưng về sau chỉ truyền lại Quyền pháp mà thôi.

Thái cực quyền kiểu Trần gia lưu truyền tới ngày nay vốn có hai loại : Trường quyền gốc của Thích Kế Quang dài và phức tạp, còn thập tam thế rút từ Thái cực quyền phổ của Vương Tông Nhạc.

Thái cực quyền lưu truyền trong một vài dòng họ cho đến khi Dương Phước Khôi và các con là Dương Ban Hầu và Dương Kiện Hầu đánh bại được nhiều cao thủ các môn phái khác và dược Thanh triều tuyển dụng là chỉ huy trưởng cấm vệ quân thì từ đó Thái cực quyền được nhiều người biết tiếng cầu học và mới phát triển thêm nhiều “chi phái” như Trần gia, Dương gia, Vũ gia, Ngô gia, Tôn gia,v.v…

Sau khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, đã cho viết lại Thái cực quyền giản hóa thành 48 thức rồi sau đó là 24 thức đều rút gọn bài quyền 88 thức của Dương gia, mục đích là phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Riêng ở Việt Nam, Thái cực quyền Dương gia phổ biến khoảng 5 – 6 chục năm nay, số người tập không nhiều, thường trong giới Hoa kiều, mặc dù Võ sư Triệu Trúc Khê là người truyền dạy Thái cực quyền có hệ thống nhất từ thập niên 40 ở Chợ Lớn. Sau 30-4-1975, các Võ sư Diệp Quốc Lương, Tô Thiếu Kiệt là môn đệ của Thầy Khê có công truyền dạy Thái cực quyền Triệu gia cho số đông người Việt vùng Sài Gòn.

So với các chi phái Thái cực quyền khác thì chi phái Triệu gia thuọc môn phái Thái cực Đường lang phổ biến rộng rãi hơn ở vùng Sài Gòn –Chợ Lớn có lẽ nhờ vào các môn đệ trực tiếp thọ giáo Quyền sư nổi danh Triệu Trúc Khê.

 

 

 

June 27, 2014
Leave a comment

Thái Cực Quyền Dưỡng Sinh

TCQ_DS

   Thông tin sản phẩm:

    Tác giả: Lương Trọng Nhàn
    Nhà xuất bản Mũi Cà Mau- 2004.

    Tái bản: Nhà Xb Phương  Đông-2011
    Phát hành: Cty VH Hương Trang
    Hình thức: Bìa mềm

    Kích thước: 14.5 x 20.5
    Số trang: 208

    Trọng lượng 200 gr
    Giá bìa: 31,000 VNĐ
    Phân phối: Tác giả
    (Sách có chữ ký của tác giả)

   Tác giả giữ bản quyền 

Giới thiệu:

Thái cực quyền từ lâu là một môn võ thuật rất hiệu quả về tăng cường sức khoẻ, phòng ngừa và trị liệu nhiều bệnh tật.

Những lý luận quyền thuật về Thái cực quyền lưu lại không nhiều, vì nhiều lý do các, các Đại sư, các Võ sư thường “khẩu thụ, tâm truyền”cho đệ tử, nên may mắn lắm thì gặp môn sinh ghi lại đầy đủ, còn đa số các Thầy cũng không muốn truyền lại hết “sở học” do chưa tìm được môn sinh toàn tâm toàn ý hoặc vì quan hệ thầy trò ngày xưa rất nghiêm khắc, những điều chưa rõ không dám hỏi thầy thành ra càng ngày càng thất truyền dần những tinh hoa võ thuật mà theo chúng tôi nghĩ thì người xưa giỏi về võ nghệ hơn ngày nay rất nhiều. Vì sao vậy? Qui luật tự nhiên của đấu tranh sinh tồn , con người thời xa xưa không có nhiều phương tiện, công cụ, máy móc để lao động di chuyễn, tự vệ, chiến đấu như ngày nay. Chẳng hạn muốn đi từ Bắc vào Nam họ sử dụng đôi chân băng ngàn vượt suối hàng tháng trời, đôi chân được tập luyện dẽo dai chịu đựng một cách bắt buộc. Muốn tự vệ,chiến đấu chống kẻ thù ư? Họ đâu có súng đạn một phát giết tức khắc nhiều người từ xa. Bắt buộc dùng tay chân thì phải nghĩ cách làm sao cho hiệu quả , họ quan sát cách chiến đấu của dã thú, chim chóc, loài bò sát và ngay cả côn trùng để mô phỏng động tác chiến đấu cho mình và đã phát kiến nhiều võ thuật nổi tiếng. Họ có nhiều thuận lợi trên con đường nghiên cứu võ thuật hơn chúng ta ngày nay, theo chúng tôi là do các yếu tố:

1) Người xưa có nhiều thời gian tĩnh lặng để suy gẫm nghiên cứu do nhu cầu đời sống đơn giản, không cạnh tranh gay gắt như ngày nay.

2) Người xưa không có nhiều hưởng thụ giải trí như ngày nay.

3) Họ có nhu cầu phải sử dụng thân thể tay chân để tự vệ , chiến đấu hiệu quả sau nữa có thể giúp tăng cường sức khoẻ chống lại bệnh tật trong một hoàn cảnh không có nhiều thuốc men khống chế vi khuẩn hữu hiệu như ngày nay.

Với những thuận lợi và quyết tâm như vậy các phát kiến võ thuật của tiền nhân rất hoàn thiện . Đó là các giai đoạn Thái cực quyền được hệ thống hoá vào cuối đời Thanh cho đến thập niên 30 thế kỹ 20 ở Trung Quốc, còn ở Việt Nam khoảng thập niên 50-60 được Tôn sư Triệu Trúc Khê phối hợp Thái cực quyền và Đường lang quyền thành Thái cực đường lang và truyền thụ ở vùng Sài Gòn- Chợ Lớn.

Chính vì sự mai một dần những tinh hoa võ thuật của Thái cực quyền mà về phương diện võ thuật ngày xưa (Trung Quốc) có nhiều Võ sư vô địch khi thi đấu với các Võ sĩ môn phái khác, nhưng ngày nay thì hiếm thấy.

Riêng về phương diện Dưỡng sinh tăng cường sức khoẻ thì yêu cầu luyện tập cũng theo những qui tắc của võ thuật nhưng mức độ chính xác về kỹ thuật cũng như thời gian luyện tập ít hơn không hao tốn sức lực, không gây chấn thương, không có hiện tượng “tẩu hoả nhập ma” , lại ổn định thần kinh tốt nên đạt hiệu quả hơn tất cả các môn võ thuật khác , kể cả các môn thể dục thể thao của phương Tây hiện tại.

Quan điểm của chúng tôi là cần cố gắng gìn giữ di sản võ thuật của tiền nhân cho tốt, nhất là môn Thái cực quyền chúng ta nên sưu tầm đầy đủ “quyền phổ” và giải mã những “yếu quyết” rất “hàm súc” của cổ nhân để luyện tập chính xác và trong khi chưa phát kiến được kỹ thuật gì mới thì không nên cải tiến làm sai lạc những khám phá vô giá của cổ nhân.

Để góp phần nhỏ trong việc bảo vệ di sản văn hoá nghệ thuật, khoa học rất có giá trị của phương Đông cụ thể về khía cạnh Dưỡng sinh của Thái cực quyền mà phương Tây đang hào hứng học hỏi, chúng tôi qua kinh nghiệm luyện tập Thái cực quyền dưỡng sinh 15 năm, cố gắng tham gia việc “giải mã” những nguyên lý, qui luật Thái cực quyền thấm nhuần tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa rất “ẩn áo” bằng những kiến thức khoa học có được và mong được sự góp sức của các bậc cao minh để Thái cực quyền ngày càng phổ cập và luyện tập hiệu quả hơn.

Trích đoạn:

1)Nguyên lý của Thái cực quyền:

Theo tài liệu cổ thì Thái cực quyền sỡ dĩ có tên gọi “Thái cực” vì mỗi động tác của môn võ này đều có phân chia Âm Dương, nghĩa là luôn luôn có những động tác đối lập như hư thực (chịu lực của thân mình trên một chân là thực, còn chân kia thả lỏng là hư) ,ẩn hiện, khai hợp, động tĩnh… mà Âm Dương là do Thái cực sinh ra, nên có tên gọi Thái cực.

Theo Tôn sư Trần Vi Minh thì cái huyệt chính giữa thân thể con người, nơi dựng nên mạng sống có tên là Đại trung cực. Đại tức là Thái. Huyệt này chính là trung điểm thân thể con người.. Huyệt này ví như cái lò nơi khí của trời đất hoá hợp ở đây để thành “nhân khí” giúp con người sinh tồn. Ông cho rằng môn quyền này vận chuyễn “khí tiên thiên” ngưng thần nhập khí tại huyệt này và nhờ vậy cái khí của Thái cực quyền luôn luôn thông lưu điều hoà dễ dàng khắp cả cái tiểu vũ trụ là cơ thể con người dễ dàng nhanh chóng, nên mới có tên gọi là Thái cực quyền.

Huyet_Menh mon Dong Tac_Vong Tron_TCQ

Theo chúng tôi tìm hiểu sâu xa hơn thì trong môn Thái cực quyền các động tác múa tay chân đều di chuyển theo một vòng cung tròn, thân mình thì xoay chuyển xung quanh trục là eo lưng (hình 3). Chân bước tới theo đường vòng cung đồng thời đầu gối, cẳng chân, bàn chân vặn theo dạng xoắn trôn ốc; Tay vừa đánh ra một vòng cung, vừa vặn bàn tay , cổ tay , cẳng tay theo chiều kim đồng hồ hay chiều ngược lại tuỳ theo tư thế . Hai hướng xoay này kết hợp lại là một đường xoắn ốc (sẽ phân tích chi tiết hơn ở các chương sau).

Tất cả các động tác đều xoay chuyễn đồng thời theo hai vòng tròn khác nhau giống như các hành tinh vừa xoay chung quanh mặt trời lại vừa tự quay tròn xung quanh mình nó.

Vì Thái cực quyền gồm những động tác theo đúng qui luật vận hành chuyển động của vũ trụ nên mới tạo được năng lượng đặc biệt là “Khí” giúp cơ thể khoẻ mạnh, các đòn đánh ra có sức mạnh, thuật ngữ Thái cực quyền gọi là “kình”.

Vòng tròn tức là biểu tượng của Thái cực. Từ Thái cực mới sinh Âm Dương(Lưỡng nghi), rồi sinh Tứ tượng và Bát quái.Có nghĩa Cái vòng Thái cực chứa hay sản sinh năng lượng đặc biệt (khí) thì mới sinh ra Bát quái tức là vạn vật. Thái cực chính là Vũ trụ. Như vậy chuyển động tròn là chuyển động sinh ra năng lượng và môn Võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền nhờ vận dụng đúng qui luật của Vũ trụ, của Thái Cực là chuyển động theo vòng tròn nên trong cơ thể phát sinh “năng lượng đặc biệt” (hay tiếp thu được từ vũ trụ rồi hoà hợp với nhân khí) gọi là “Khí” .

Thật vậy có thể nói hầu hết các chuyển động trong vũ trụ đều là chuyển động theo đường tròn. Hãy xem nếu ta đi từ cái lớn nhất là vũ trụ đến cái nhỏ nhất là nguyên tử đều thấy có sự chuyển vận theo đường vòng ; Địa cầu quay xung quanh Mặt trời, Mặt trời mang cả Thái dương hệ quay chung quanh tâm của giải Ngân hà. Giải Ngân hà cũng nhích xa ra khỏi các thiên hà theo một quĩ đạo riêng.

Thien Ha M100 Thai duong he

 Trong vũ trụ có hàng tỉ thiên- hà như Ngân-hà. Các thiên-hà đó hội với nhau thành chùm lớn gọi là thiên-toà, nhiều thiên toà họp thành thiên-lĩnh (vùng trời) tất cả đều chuyển động theo quĩ đạo .Đến đây ta tạm dừng trí tưởng tượng về cái lớn nhất vì vũ trụ bao la không giới hạn nên vẫn còn mãi nhưng cái vĩ đại hơn thiên lĩnh, thiên toà và có lẽ mọi cái lớn ấy cũng chuyển động theo một vòng tròn, bây giờ chúng ta xem cái nhỏ nhất là nguyên tử thì cấu tạo của nó cũng không khác gì Thái dương hệ , ở giữa là proton là dương điện tử, xung quanh có nhiều electron là âm điện tử quay quanh nhân proton bằng nhiều quĩ đạo khác nhau như những hành tinh quay quanh mặt trời. Ta thử tưởng tượng không có chuyển động tròn theo Quĩ đạo thì Vũ trụ có tồn tại không ? Nếu sao và hành tinh chuyển động thẳng thì chúng đi về đâu? Không chuyển động tròn thì không có chu kỳ Ngày Đêm, chỉ có ngày mà không đêm, hoặc có đêm không ngày( tức có dương mà không có âm, hoặc có âm không dương) sẽ không có sự sống.

Trong sinh hoạt hằng ngày máy móc, mô tơ đều quay tròn, máy nổ thì chuyển động thẳng của piston phải chuyển qua chuyển động tròn của trục từ đó chuyền tới bánh xe cũng chuyển động tròn . Tàu thuỷ máy bay đi tới cũng nhờ chuyển động tròn của cánh quạt, ngay ta đi từ T/P Hồ Chí Minh ra Hà Nội ta đi trên đường thẳng nhưng kỳ thực là đi theo đường tròn vì mặt quả đất hình tròn.Chưa kể khi ta từ Hà Nội về lại T/P Hồ Chí Minh là đi khép kín một vòng rồi tuy cái vòng này là hình bầu dục , không bao giờ ta lại đi trùng ngay đường lúc đi dù trên cùng con lộ vì ra đi bên phải lúc về cũng bên phải chiều ngược lại là bên trái, như thế mọi chuyển động thẳng rút cục cũng đi theo đường vòng.

Các dạng năng lượng như làn sóng điện lan truyền theo dạng hình tròn từ trường cũng có đường sức vòng tròn. Từ trường quả đất có đường sức vòng tròn toả ra bao quanh quả đất theo hướng Bắc ® Nam.

Tu Truong_qua Dat

 Con người muốn đi đến các hành tinh phải đi theo đường vòng tròn , tức là Phi thuyền không gian bay quanh trái đất theo vòng tròn nếu tốc độ phi thuyền gia tăng mãi vòng tròn ấy gọi là quĩ đạo sẽ mở rộng dần cho đến khi trùng với quĩ đạo hành tinh mà con người muốn đến .

 Duong di cua Phi thuyen

 Chuyển động tròn sinh ra năng lượng và vật chất: Theo Giáo sư Tiến sĩ Trần Kim Thạch (trong sách đã dẫn trên) thì quá trình một mặt trời được thành lập như sau: “trong giải Ngân hà có những đám mây khinh khí rộng chừng một trăm năm ánh sáng rất loãng, loãng đến độ ta không tài nào tạo ra trong phòng thí nghiệm với những máy rút hơi tân kỳ nhất của loài người. Người ta ước lượng rằng một đám mây như vậy có thể đủ khối lượng tạo thành 5 Thái dương hệ một lúc, mặt dầu mỗi lít chỉ chứa vài nguyên tử khinh khí mà thôi. Do sự xoáy lộn của khối khí nguyên thuỷ làm cô đọng khí loãng đó tạo thành Mặt Trời . Nhà thiên văn học James Jeans đã chứng minh rằng khinh khí (Hydrogen) cô đọng lại chỉ vì chúng vượt qua khỏi một độ loãng giới hạn còn đủ sức giữa các nguyên tử nằm xa nhau. Khi giới hạn đó bị vượt qua rồi các nguyên tử đâm sầm vào nhau và cô đọng lại thành từng khối và những nguyên tử lưng chừng sẽ bị các khối rời rạc hút thêm vào. Qua nhiều triệu năm mật độ cô đọng càng gia tăng cho đến khi nào đám mây khinh khí co rút lại đến một khối có đường kính mươi nghìn tỷ cây số (bằng 60 lần khoảng cách Mặt Trời/quả đất) áp suất đạt đến mức đầy đủ để ép các nguyên tử giữa tâm, khiến cho chúng tan vào nhau. Sự hoà hợp đó chẳng những tạo ra một số NGUYÊN TỐ MỚI, nặng hơn và phức tạp hơn, mà còn tạo ra năng lượng khủng khiếp. NĂNG LƯỢNG lan truyền ra bên ngoài dưới dạng ánh sáng. Thế là một VÌ SAO chào đời .Đồng thời các đám lốc nhỏ xung quanh đám lốc lớn (tạo mặt trơi) cũng quay theo những quĩ đạo riêng biệt vì các đám lốc quay khác tốc độ nhau va chạm nhau khiến khối lượng và kích thước ngày càng lớn ra, lúc đầu tạo thành vẫn thạch sau thành á tinh hay tiểu tinh và cuối cùng là hành tinh. Các đám lốc con dần dần bị lấy mất hết vật liệu sẽ trở thành đám khinh khí loãng không gian liên hành tinh.

Vậy từ một đám khinh khí cực loãng, nguội lạnh và tối tăm, ta có một khối khinh khí đậm đặc, nóng đo, sáng chói xoáy lộn , trong vòng hàng mấy nghìn triệu năm là mặt trời và nhiều hành tinh , vệ tinh xung quanh nó”.

Như thế từ đám mây Hydrogen cực loãng gần như chân không nhờ quay vòng, xoáy lộn nhiều triệu năm tạo ra năng lượng ánh sáng và đã tạo ra vật chất là các thái dương hệ gồm mặt trời và nhiều hành tinh.

Hình ảnh thành lập Thái dương hệ này giống hệt động tác vò viên thuốc hoàn theo lối thủ công trong Đông y, dùng một các thúng hơi dẹt bằng tre treo 4 sợi dây lên trần nhà,đổ bột thuốc hơi ẩm nhưng rời rạc, lắc theo vòng tròn theo 3 chiều liên tục do sức ly tâm làm bột thuốc cô đọng sẽ tạo thành những viên thuốc tròn như hòn bi, tuỳ theo thời gian lắc số bột chưa cô đọng thành viên còn lại nhiều hay ít. Trong thúng có đủ kích cở các hạt , nhưng do sự khéo léo của người vò thuốc có cách lắc thế nào để ra các viên thuốc tròn đều nhau.

Theo Tiến sĩ Võ Quang Yến (sách đã dẫn) thì khi có mưa giông, có khi sét hiện ra thành hòn tròn, lăn vào nhà và nổ,nguyên do khi di chuyển, những điện tích gây ra dòng điện, từ đây sinh ra từ trường, từ trường uốn cong đường đi của các hạt điện và dần dần plasma biến ra hòn tròn .Đây là các Plasma mà từ lâu người ta không giải thích được .Plasma là khối khí bao gồm hạt trung hoà tử (neutron), ion dương (nguyên tử hoặc phân tử bị mất âm điện tử) và âm điện tử(electron). .. Nhiều hòn plasma làm thành plasmaoðde. Người ta suy đoán thái dương hệ trước khi tụ đặc (cô đọng) ra mặt trời và các hành tinh, là những plasmaoðde khỗng lồ. Hiện nay ở phòng thí người ta đã chế tạo được những plasmaoðde tí hon, có cánh hình xoắn ốc như những thiên hà vĩ đại.

Theo thuyết vũ trụ được thành lập do một vụ nổ (big-bang) cách đây khoảng hơn 14 tỷ năm thì lúc đầu các thiên hà nhập chung lại thành khối duy nhất đậm đặc đến nỗi một cm³ cân nặng 100 triệu tấn. Vũ trụ nguyên thuỷ này chỉ gồm toàn dương tử (proton) và âm điện tử (electron) chịu một sức ép dữ dội nên nhiệt độ tăng lên đến cả nghìn tỉ độ bách phân. Như vậy Vũ trụ nguyên thuỷ chưa phải là vật chất mà chỉ là năng lực toả rộng. Sau vụ nổ, khiến cho năng lực đó bắn tung toé ra khắp bốn phương trời, năng lực ấy mới nguội đi để thành vật chất. Vật chất này bắt đầu cô đọng và quay cuồng (do luật vạn vật hấp dẫn và từ trường). Sự quay cuồng làm cho các khối khí co rút, từ đó thiên hà, tinh tú, mặt trời và hành tinh mới sinh ra.

Điều thú vị là sự thành lập vũ trụ như trên rất trùng hợp với cách diễn đạt về nguồn gốc vũ trụ của Kinh Dịch có hàng ngàn năm nay rồi.

Thật vậy Vũ trụ lúc đầu là một khối hỗn mang, cổ nhân diễn tả bằng một vòng tròn rỗng, chẳng khác gì đám mây kinh khí cực loãng, sau đó phân ra âm dương ,tức là các âm điện tử và dương điện tử ; âm dương giao hoà sinh ra tứ tượng, tương đương với với lúc vật chất bắt đầu cô đọng và quay cuồng; tứ tượng sinh ra bát quái, bát quái gồm có trời, đất,núi,nước lửa, gió, sấm sét,ao đầm tức là giai đoạn hình thành các thiên hà, các vì sao (star) và các hành tinh (planete); bát quái được biểu diễn bằng 3 gạch tượng trưng cho Trời, Đất, Người tức là có sự sống trên hành tinh.

 Thai Cuc-Bat Quai

Học giả Nguyễn Duy Cần trong Chu Dịch huyền giải (NXB T/P Hồ Chí Minh tái bản-1992) cũng có viết: “ theo người Đông Phương, con đường vận chuyển của vạn vật được tượng trưng bằng vòng tròn, không như người Tây Phương tượng trưng nó bằng con đường thẳng.Vì vậy Đông phương không chủ trương tiến hoá như Tây phương theo con đường thẳng mà chủ trương dịch hóa theo cái vòng tròn “chu nhi phục thuỷ” nên mới gọi là chu dịch, nghĩa là biến dịch theo vòng tròn (révolution circulaire) .Trình Y Xuyên bảo : “ Biến là khí Dương tiến từ Thiếu dương đến Thái dương; còn Hoá, là Khí Dương đã đến thời suy huỷ từ Thiếu Âm đến Thái âm”.Đó là hiện tượng đi từ sinh qua tử, kiếp vận chung của vạn sự vật trên đời.

 Sự vật trên đời hể “cùng tắc biến”, “cực tắc phản”, “chung tắc thuỷ”… loay hoay mãi theo một cái vòng tròn vô tận: “thuỷ tốt nhược hoàn”. Theo người Đông phương thuyết tiến hoá của Tây phương chỉ là một ảo tưởng của loài người. Nếu phải dùng đến chữ “tiến hóa”thì phải nói tiến mãi theo cái vòng tròn của cây kim đồng hồ”.

 Có thể nói qui luật chuyển động tròn là qui luật của vũ trụ của thái cực, hay nói cách khác chuyển vận theo đường vòng là thuận theo luật của tự nhiên nên chuyển động tròn sinh ra năng lượng và vật chất mà cụ thể là “Khí” một nguồn năng lượng đặc biệt cần thiết cho sự “sống” và sự hình thành vật chất.

Chính môn Thái Cực Quyền theo nương qui luật sinh thành, biến hoá của vũ trụ để xây dựng các động tác vận động hợp với tự nhiên khiến người luyện tập có thể “tiếp thu” hay “tự tạo” nên “Khí” một “nguồn năng lượng đặc biệt” mà sinh vật cần nó để sinh tồn và phát triển và cũng vì lẽ đó nên các các Nhà phát triễn môn võ này mới đặt tên cho này là Thái cực quyền, danh từ này diễn tả đầy đủ và có ý nghĩa nhất sự vận động xuyên suốt của mọi động tác bên ngoài và bên trong của người luyện tập là vận hành theo vòng tròn, vòng Thái cực.

Vũ trụ quan phương Đông luôn cho rằng:Con người là tiểu thái cực trong cái đại thái cực là vũ trụ, con người nếu sống hợp theo, nương theo thái cực là tích được nguồn khí lực để tồn tại” .

Chính “khí” là một khái niệm chỉ có ở những môn luyện tập nội công mà Thái cực quyền là một môn võ luyện nội công rất thần diệu. Để khám phá thêm bí ẩn về khí sinh ra trong luyện tập Thái cực quyền, chúng ta sẽ tìm hiểu sau khi nắm rõ nguyên lý của môn này ở những chương sau.

……………………………………………………………………………………………

 

 

 

This entry was posted in Thái cực quyền. Bookmark the permalink.

One Response to SÁCH THÁI CỰC QUYỀN

  1. Mr WordPress says:

    Hi, this is a comment.To delete a comment, just log in and view the post's comments. There you will have the option to edit or delete them.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s